• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

bài phát biểu tham luận" Thực trạng năng lực thích ứng của HTX với Biến đổi khí hậu và dịch bệnh"

z2398343249180 36d70d26bf03cf01190c46ecdfd28daa

Biến đổi khí hậu dẫn đến xu hướng thời tiểt cực đoan trong những năm gần đây thể hiện rõ nét nhất qua quy luật nóng - rét, mưa - nắng thay đổi nhiều theo hướng: nhiệt độ trung bình năm tăng, tổng tích ôn tăng, số đợt và thời gian rét có giảm hơn song rét đậm rét hại có xu thế tăng. Cường độ mưa gia tăng làm lũ ống, lũ quyét, sạt lở xảy ra nhiều và mạnh hơn, song hạn hán diện rộng và cục bộ quy mô ngày càng rộng và trầm trọng hơn. Những tác động trên đã tác động không nhỏ đến bố trí cơ cấu mùa vụ cây trồng, sử dụng cơ cấu giống cây trồng, bảo quản sơ chế, chế biến, lưu thông hàng hóa, tình hình dịch bệnh, giá cả thị trường và đời sống sinh hoạt nhân dân.

Việt Nam là một trong những Quốc gia chịu ảnh hưởng các hiện tượng biến đổi khí hậu và thời tiết. Khí hậu cực đoan, bão, lũ, lụt, sạt lở đất và hạn hán nhất là khu vực Trung du Miền núi gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho nhân dân. Bên cạnh đó, dịch bệnh lây lan trên diện rộng như cúm gia cầm H5N1, dịch Tả lợn Châu Phi, đại dịch Covid 19 đã trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, nhất là cư dân nông thôn.

Năng lực thích ứng biến khí hậu và dịch bệnh của Hợp tác xã thể hiện trên các khía cạnh như: quy mô sản xuất, năng lực tài chính, công nghệ sử dụng, khả năng tiếp cận, năng lực thay đổi và đa dạng hóa sản phẩm. Thực trạng năng lực thích ứng của HTX như thế nào.

Về quy mô sản xuất: Đa phần HTX khi thành lập mới chỉ đáp ứng yêu cầu số thành viên tối thiếu là 7, quá trình hoạt động kết nạp thêm thành viên, song đánh giá sơ bộ số HTX quy mô siêu nhỏ (dưới 50 thành viên) chiếm tỷ trọng rất lớn trên 80%. Về tư liệu sản xuất như đất đai, nhà xưởng của HTX còn khiêm tốn, đa phẩn HTX có đất đai tương đương 5-10 lần của hộ cá thể trung bình nên khả năng tạo hàng hóa thấp. Chưa kể tình trạng nhiều HTX, các thành viên có quan hệ huyết thống dẫn đến khả năng quy tụ đất đai, nguồn vốn từ các hộ cá thể phục vụ sản xuất thấp.

Về năng lực tài chính: Trên 70% số HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với vốn điều lệ dưới 1 tỷ đồng, chủ yếu thực hiện cung ứng dịch vụ đầu vào cho thành viên và thành viên liên kết như giống, phân bón, thuốc thu y, thuốc bảo vệ thực vật, một số ít làm thêm dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật, thủy lợi nội đồng. VỚi năng lực tài chính eo hẹp như vậy rất khó tiếp cận công nghệ tiên tiến, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Về công nghệ sử dụng: chủ yếu là công nghệ truyền thống, có hàm lượng khoa học thấp, tỷ lệ hao phí nguyên vật liệu đầu vào cao, tính đồng nhất sản phẩm không cao, khả năng kiểm soát sản phẩm thấp. Điều này dẫn đến giá thành sản phẩm cao song giá trị sản phẩm thấp, hiệu quả sản xuất kinh doanh không lớn. Một vấn đề nữa là do ruộng đất manh mún, bờ lắm-thửa nhiều dẫn đến khó áp dụng cơ giới và tự động hóa trong sản xuất, khó quy hoạch hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất. Thậm chí thuê lại đất bỏ hoang của dân để mở rộng sản xuất kinh doanh tại một số địa phương khó do giá trị địa thế lô đất.

Về khả năng tiếp cận: mạng internet đã tăng khả năng tiếp cận thông tin của câc hợp tác xã, song mới tập trung ở bộ phận cán bộ quản trị trẻ, năng động, được đào tạo chuyên nghiệp; tỷ lệ cán bộ quản trị hợp tác xã chưa khai thác các tiện ích công nghệ thông tin còn cao dẫn khả năng tiếp cận công nghệ, thị trường còn thấp. Tiếp cận tài chính của các HTX hạn chế do thiếu tài sản thế chấp, phương án sản xuất kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro, lãi xuất cao và chưa lắm rõ trình tự thủ tục vay.

Về năng lực thay đổi của Ban quản trị hợp tác xã còn thấp, chủ yếu sản xuất kinh doanh cái mình có, mình quen làm mà chưa chủ động thay đổi, thích ứng với nhu cầu thị trường, điều này thể hiện rõ nét nhất đối với cán bộ quản trị cao niên họ ngại thay đổi, sợ và không chịu được thất bại. Nghiên cứu, phát triển sản phẩm chưa được chú trọng, mới tập trung vào bán sản phẩm thô và sản phẩm truyền thống. Thực hiện chương trình OCOP đến nay đã có 71 sản phẩm được công nhận đạt chuẩn 3 - 4 sao, tuy nhiên số lượng sản phẩm ít, mẫu mã đơn giản, khó đáp ứng đơn hàng lớn, khả năng cạnh tranh của sản phẩm ocọp trên thị trường trong và ngoài nước chưa cao.

Diến biến thời tiết và dịch bệnh có tác động chung đến các thành phần và toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, trong đó tác động trực tiếp đến thành viên và tổ chức kinh tế tập thể. Những giải pháp nào thích ứng với xu thế biến đổi khí hậu và tình hình dịch bệnh hiện nay. Theo tôi có một số nhóm giải pháp chính sau:

Một là, Nâng cao khả năng nhận diện và lựa chọn phương án thích ứng với biến đổi khí hậu, dịch bệnh, theo quan điểm phòng tránh hơn chống, tập trung vào: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh, giảm nhẹ thiên tai và dịch bệnh; xây dựng và tuyên truyền, phổ biến kịch bản biến đổi khí hậu, thiết lập bản đồ các dạng rủi ro thiên tai để có chiến lược, kế hoạch dài hạn ứng phó. Tổ chức kinh tế tập thể nâng cao khả năng tiếp cận và phân tích thông tin từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm cơ sở lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, trọng tâm là ứng dụng công nghệ thông tin, lựa chọn công nghệ sản xuất mới

Hai là, sản xuất thuận thiên: việc lựa chọn cơ cấu, chủng loại giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sản xuất thích ứng với xu thể biến đổi khí hậu như: sử dụng giống chịu hạn, giống kháng bệnh, canh tác luân canh, hạn chế sử dụng phân vô cơ, chất kích thích sinh trưởng mà hướng tới nâng cao sức khỏe đất và cây trồng thông qua sử dụng phân hữu cơ, sử dụng thiên địch trong phòng trừ bệnh.

Ba là, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, nguyên vật liệu đầu vào thông qua nông lâm kết hợp, cơ cấu đa canh, chuỗi tuần hoàn thức ăn hướng đến hạn chế tối đa chất thải ra môi trường, ví dụ: trồng cỏ, nguyên liệu làm thức ăn cho côn trùng, gia súc, gia cầm; phân gia súc gia cầm làm thức ăn cho cỏ; côn trùng làm thức ăn cho gia cầm, gia súc; xác gia súc, gia cầm thải loại trong quá trình làm thức ăn thủy sản; nước thải chăn nuôi là nước tưới cho cây trồng và qua hồ sinh học là môi trưởng sống của thủy sản....

Bồn là, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ tạo thành chuỗi cung ứng: số và chất lượng sản phẩm được sản xuất ra cần có địa chỉ cung ứng đầu vào, địa chỉ tiêu thụ sản phẩm cụ thể thông qua hợp đồng có bảo lãnh của chính quyền địa phương cũng như quỹ phòng ngừa rủi ro trong sản xuât, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt đối với sản xuất sản phẩm tươi sống ngắn ngày như gia cầm, rau, củ quả cần khuyến cáo không sản xuất tự phát dẫn đến cung vượt quá cầu, được mùa rớt giá.

Năm là, nâng cao giá trị sản phẩm bản địa nhất là sản phẩm OCOP thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, sản xuất theo quy chuẩn, quy trình an toàn dịch bệnh, tiêu chuẩn GAP, định danh vùng trồng, chính danh hóa nhà sản xuất. Qua đây vừa khai thác được lợi thế, tiềm năng vùng miền, vừa khai thác được lợi thế thích ứng của cây trồng vật nuôi tại địa phương.

Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ 4.0 trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như: QR CODE, sàn giao dịch điện tử, bán hàng online, cây con của bạn qua camera trực tuyến. Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu kinh tế tập thể, sản phẩm của hợp tác xã, xây dựng phần mếm báo cáo, thông tin trực tuyến từ HTX đến Liên minh hợp tác xã tỉnh và Liên minh hợp tác xã Việt Nam

z2398377995550 4aee914664532712a138b09ca2cf2632

Quang cảnh diễn đàn

Vậy Liên minh hợp tác xã Việt Nam và cấp tỉnh cần làm gì để hỗ trợ thành viên chính thức sản xuất kinh doanh thích ứng với biến đổi khí hậu và dịch bệnh. Theo tôi cấn thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức cán bộ thuộc hệ thống về xu thể, giải pháp, chủ trương, chính sách về ứng phó biến đổi khí hậu và dịch bệnh để họ có đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để tư vấn, hỗ trợ giúp đỡ cho thành viên.

Thứ hai, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền thông qua hội thảo chuyên đề, chuyên trang, chuyên mục trên các phương tiện thông tin đại chúng và bản tin chuyên ngành. Nôi dung tập trung vào giới thiệu công nghệ, giải pháp, mô hình điển hình về ứng phó biến đổi khí hậu và phòng tránh dịch bệnh.

Thứ ba là, đề xuất thành lập và vận động quỹ hỗ trợ thiên tai, dịch bệnh cho tổ chức kinh tế tập thể, trên tinh thần lá lành đùm là rách nhằm giảm thiểu rủi ro cho thành viên. Khai thác tối đa chính sách hiện có để giảm thiểu rủi ro do thiên tai như Nghị định 02/2017/NĐ-CPcơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, Nghị định 160/2018/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai.

Thứ tư là, xây dựng mô hình hợp tác xã thích ứng với biến đổi khí hậu theo các vùng sinh thái có mức độ rủi ro thiên tai khác nhau, làm cơ sở đánh giá, cải tiến và nhân ra diện rộng. Trước mắt, tập trung vào những vùng có nguy cơ chịu ảnh hưởng thiên tai cao như vùng ven biển, ven sông, vùng núi, khu vực thượng lưu đập thủy điện và hồ chứa lớn; xây dựng mô hình chăn nuôi khép kín, an toàn dịch tại vùng quy hoạch chăn nuôi lớn, vùng cận đô thị...

Thứ năm là, tham gia vận động và thực hiện chương trình 1 tỷ cây xanh do Thủ tướng Chính phủ phát động, phong trào 1 triệu cây xanh do Liên minh hợp tác xã Việt Nam phát động, nhằm hưởng ứng giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường sinh thái và phòng hộ đầu nguồn các lưu vực sông lớn.

Biến đổi khí hậu và lây lan dịch bệnh đã tác động không nhỏ đến các mặt đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của chúng ta. Nhận diện và thích ứng với thay đổi đó là việc làm cấp thiết với các cấp, ngành, tổ chức và cá nhân. Đặc biệt là tổ chức kinh tế tập thể là một trong những đổi tượng phải chịu tác động trực tiếp nhất. TRước mắt trong đại dịch COVID 19 này chúng ta hãy thực hiện nghiêm khuyến cáo 5 K của Bộ y tế.

Toàn văn bài phát biểu tham luận của đồng chí Trần An Định - Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình tại Diễn đàn" Thực trạng tiếp cận chính sách và giải pháp nâng cao năng lực thích ứng cho HTX trong bối cảnh mới" tại Hà Nội ngày 24/03/2021